Ngày 15/5, Công ty TNHH MTV Hanel và Công ty TNHH Tháp Láng Hạ đã tổ chức Lễ khởi công Dự án Cảng thông quan nội địa TP Hà Nội tại xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm. Đến dự có Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hoà Bình; Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung; Đại diện Sở QHKT có đồng chí Bùi Mạnh Tiến - PGĐ Sở.

Dự án có quy mô 47,2 ha được đầu tư theo 2 giai đoạn (giai đoạn 1 là 19,2 ha). Tổng mức đầu tư giai đoạn 1 (chưa tính mức đầu tư tuyến đường vào) là 781,8 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào quý IV/2017. Sau khi đi vào hoạt động giai đoạn 1, Cảng thông quan nội địa TP Hà Nội có khả năng tiếp nhận và thông qua 380.000 TEUs/năm (1 TEU tương đương 1 container tiêu chuẩn 20 feet). Trong giai đoạn 2, tổng mức đầu tư dự kiến hơn 1.782 tỷ đồng, dự kiến sẽ hoàn thành trong quý IV/2021, có thể đáp ứng lượng hàng hoá lên tới 760.000 TEUs/năm.

Cảng Thông quan nội địa TP Hà Nội có vị trí thuận lợi, nằm tiếp giáp QL1B, QL5 và Vành đai III của TP, nơi hội tụ các tuyến hành lang vận tải chính của toàn bộ khu vực phía Bắc và các cảng biển, cửa khẩu quốc tế theo chiến lược phát triển 2 hành lang, 1 vành đai kinh tế. Khả năng cung cấp dịch vụ điểm thông quan nội địa này bao gồm: Toàn bộ luồng hàng hóa xuất, nhập khẩu tại khu vực Bắc Việt Nam theo các tuyến hành lang vận tải được trung chuyển qua Hà Nội trước khi đi/đến các cảng biển, cửa khẩu quốc tế tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai; toàn bộ hàng hóa xuất, nhập khẩu tại các khu kinh tế, khu công nghiệp thuộc các tỉnh, TP nằm trong vùng Thủ đô; Hàng hóa phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế của thủ đô Hà Nội nói riêng và toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

Sau khi hoàn thành Cảng thông quan mới cũng sẽ cung cấp các dịch vụ kho vận, dịch vụ phụ trợ, logistics, dịch vụ lưu kho (kể cả kho đông lạnh) và phân phối hàng hoá với công nghệ cao, đón đầu xu hướng xuất nhập khẩu không cần kho bãi.

TS Nguyễn Quốc Bình, Chủ tịch HĐTV, Tổng giám đốc Hanel nhận định, việc xây dựng Cảng thông quan nội địa TP Hà Nội là đón đầu cơ hội cho phát triển kinh tế Thủ đô, đồng thời mang lại nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách TP.

Ghi nhận và biểu dương sự cố gắng của các sở, ban, ngành, UBND huyện Gia Lâm, chủ đầu tư đã có nhiều cố gắng để dự án khởi công đúng kế hoạch, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung tại lễ khởi công cũng nhấn mạnh, với việc triển khai dự án Cảng thông quan nội địa hiện đại cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chương trình cải cách hành chính, hiện đại hóa công tác hải quan trên địa bàn TP; Hỗ trợ tối đa cho các DN xuất, nhập khẩu hàng hóa và tạo điều kiện cho sự phát triển các khu công nghiệp trong toàn vùng Thủ đô.

Chương trình định cư con người của Liên Hợp Quốc (UN-HABITAT) rất tự hào tham dự hội nghị Hà Nội Thiên Niên Kỷ này, hội nghị kỷ niệm 1000 năm lịch sử và phát triển của Hà Nội, diễn ra vào ngày 12-13 tháng 10 năm 2010. Sự kiện thu hút rất nhiều chuyên gia cùng tới để chào mừng Hà Nội 1000 năm này là một sáng kiến quan trọng giúp nhìn lại những kinh nghiệm trước đây để đánh giá quá trình đô thị hóa của Hà Nội và cùng xác định những hướng đi cho tương lai với nhiệt tình mới.

1. GIỚI THIỆU

Như quý vị đều biết, dân số ở châu Á chiếm 60% dân số của nhân loại. Các thành phố châu Á hơn nữa là nhà của gần một nửa dân số đô thị trên thế giới. Báo cáo “Tình trạng Các thành phố châu Á năm 2010” được công bố gần đây cho thấy tốc độ đô thị hóa tại châu Á vào năm 2010 ở mức 42.2%, và với tốc độ phát triển đô thị nhanh như hiện nay, châu Á được kì vọng sẽ trở thành “đô thị”, với hơn 50% dân số sống ở các thành phố vào năm 2025. Bản thân Việt Nam đã có 30,4% đô thị (27 triệu người dân đô thị trong tổng số 89 triệu dân) và sẽ đạt 50% đô thị trước năm 2040. Cùng với những thay đổi nhân khẩu học đáng kể này, Châu Á cũng đang đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy – Châu Á thực ra đang trở thành một ngôi nhà cường quốc kinh tế trên thế giới và đã khá thành công khi đương đầu với những cú đánh trời giáng của suy thoái kinh tế toàn cầu kể từ năm 2008. Báo cáo “Tình trạng Các thành phố châu Á năm 2010” gần đây cũng cho thấy 80% tỉ trọng tăng trưởng kinh tế trong khu vực là từ các thành phố và thị trấn. Tôi đã thường xuyên đến thăm Châu Á kể từ năm 1975 và đã tận mắt chứng kiến sự phát triển này.

Khu vực châu Á cũng đang trải qua những cải cách to lớn và đang đưa ra những đổi mới rõ rệt trong tài chính, cung cấp dịch vụ, quản lý và công nghệ liên quan tới nhà ở và phát triển đô thị. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực đang phải đối mặt với những thách thức của nghèo đói, khu ổ chuột, ô nhiễm môi trường đô thị và biến đổi khi hậu trong đó, thiên tai ngày càng diễn ra thường xuyên và tác động nghiêm trọng hơn. Báo cáo “Tình trạng các thành phố châu Á năm 2010” nhấn mạnh, khoảng 240 triệu người vẫn đang sống ở khu vực duyên hải, 10m thấp hơn mực nước biển.

Những thách thức về nhà ở và phát triển đô thị, theo nghĩa rộng, có liên hệ quan trọng tới những diễn biến năng động tích cực đang giúp khu vực châu Á phát triển, và cùng lúc liên hệ tới những yếu kém dễ gây bất ổn vẫn còn phổ biến trong khu vực.

Các chủ đề được quan tâm ở hội nghị lần này có phạm vi vượt ra ngoài những khía cạnh ngành nhất định trong lĩnh vực nhà ở và phát triển đô thị. Các chủ đề được kết nối chủ yếu với chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam. Đây cũng là mục tiêu cuối cùng. Để đạt mục tiêu này, chúng ta cần xem xét lại vai trò của chính phủ, của cộng đồng và các tổ chức dân sự trong hoạch định và quản trị, cũng như thảo luận cách nâng cấp các khu ổ chuột với sự tham gia của cộng đồng địa phương, những tiến bộ đạt được trong Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ về nước và điều kiện vệ sinh trong khu vực, hay các cách thức huy động tài chính, công và tư, cho nhà ở và phát triển đô thị, cũng như cách mà cộng đồng địa phương có thể đóng góp để giải quyết các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Những trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và việc xác định những tiến bộ đạt được sẽ là những nỗ lực cụ thể nhằm tạo nên sự khác biệt cho điều kiện sống của người dân Hà Nội.

Tôi sẽ trình bày trong phần đầu những thách thức chung của các thành phố Châu Á, sau đó là những thách thức cụ thể của Hà Nội và tôi sẽ kết thúc bài trình bày với phần khái quát về dân số của tiến trình đô thị hóa tại Châu Á.

2. NHỮNG THÁCH THỨC ĐÔ THỊ HÓA TẠI CHÂU Á

Để bắt đầu, tôi muốn nêu lên năm vấn đề để chúng ta cùng xem xét. Những vấn đề này xảy ra ở rất nhiều nước Châu Á.

Vấn đề đầu tiên là huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc quy hoạch và quản trị. Các nước châu Á đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phân quyền. Kết quả của quá trình này là việc trao quyền cho các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng như một phần trong hệ thống tham gia chính quy vào quản trị. Sự tham gia trực tiếp của cộng đồng đã mang lại lợi ích cho việc triển khai chương trình và dự án – điều này sau đó đã góp phần hình thành nền tảng kiến thức phong phú. Tuy nhiên ở nhiều nước, quy hoạch tổng thể dường như vẫn mang tính thay đổi, giao việc ra quyết định cho một nhóm ít các chuyên gia, và thường cản trở sự tham gia có lợi của cộng đồng vào công tác quy hoạch và quản trị. Một số câu hỏi có thể được đặt ra như: Các tổ chức xã hội dân sự và tổ chức dựa trên cộng đồng đóng vai trò gì trong quy hoạch đô thị và quản trị thành phố? Làm cách nào để tận dụng tối ưu nguồn tri thức có được khi cải thiện quá trình phát triển đô thị? Làm cách nào để nâng cao năng lực các cơ quan quy hoạch để hoạch định và quản lý tốt hơn? Chia sẻ kinh nghiệm về sự tham gia của các bên liên quan ở các cấp độ quy hoạch và quản trị là rất cần thiết.

Vấn đề thứ hai có liên quan là việc nâng cấp đô thị có sự tham gia, một trong những lĩnh vực trọng tâm của Chương trình định cư con người LHQ (UN-HABITAT). Mặc dù các chính phủ đã có những nỗ lực và thành tựu nhất định trong việc cải tạo khu ổ chuột, 50% số người sống trong khu ổ chuột trên toàn cầu vẫn nằm ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Kinh nghiệm từ nhiều nước trong khu vực cho thấy những người sống tại các khu ổ chuột đóng góp cho việc nâng cấp đô thị cũng như sự phát triển của khu vực phi chính thức nếu họ được tham gia một cách có hệ thống vào quá trình này. Chính quyền các nước và tại địa phương, các tổ chức khu vực cũng như UN-HABITAT đã và đang giải quyết vấn đề này, và quá trình học hỏi tích lũy này góp phần tạo nên “Quy trình phát triển dựa vào người dân”. Cách tiếp cận này đã được thử nghiệm và thực hiện, bao gồm các tổ chức cộng đồng, việc lập kế hoạch hành động cộng đồng, cộng đồng đứng ra ký kết hợp đồng, tiết kiệm và tín dụng tại cộng đồng, và cộng đồng tham gia vào quá trình giám sát. Mặc dù các chính quyền địa phương là nơi tốt nhất để thực hiện quy hoạch đô thị một cách thích hợp, các thế mạnh, tài nguyên và kỹ năng của các cộng đồng địa phương cần được huy động trong quá trình cải tạo nâng cấp các khu ổ chuột, chuyển từ những can thiệp theo dự án lên những can thiệp áp dụng tại cấp thành phố. Làm thế nào để hỗ trợ sự phát triển có sự tham gia của khu vực phi chính thức bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ? Làm thế nào để tăng cường vai trò của phụ nữ và các tổ chức dựa trên cộng đồng trong quá trình nâng cấp các khu ổ chuột? Làm thế nào để phát huy các chính sách và các chương trình lấy nhân dân và cộng đồng làm cơ sở? Làm thế nào để việc nâng cấp các khu nhà tạm theo cách tiếp cận Phát triển dựa vào người dân và hài hòa với các cách tiếp cận áp dụng trong toàn thành phố? Hướng tiếp cận tài chính nào cho việc nâng cấp khu ổ chuột sẽ hiệu quả với những người có thu nhập thấp, và làm thế nào để tăng cường năng lực cho các bên tham gia? Làm thế nào để xây dựng một chính sách toàn diện về đất và nhà ở? Nâng cấp đô thị là một thách thức rất lớn trong khu vực châu Á. Vì thế những thành công và khó khăn cần được thảo luận ở cấp độ khu vực để vượt qua thách thức này một cách có hệ thống.

Vấn đề thứ ba là về việc thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ về nước sạch và vệ sinh. Như đã từng đề cập, “nước là sự sống, điều kiện vệ sinh là phẩm giá”. Tin tốt là hầu hết các nước ở châu Á đang đi đúng tiến độ trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ về nước uống an toàn. Nhưng tin xấu là điều kiện vệ sinh vẫn là một thách thức lớn vì 1,9 tỷ người trong khu vực châu Á vẫn chưa tiếp cận được với điều kiện vệ sinh được cải thiện. Hơn nữa, số người ở các khu vực đô thị với điều kiện vệ sinh không được cải thiện đang ngày một tăng lên, đòi hỏi phải có những giải pháp vệ sinh dựa trên cộng động và phù hợp với địa phương. Những kinh nghiệm tốt trong quy hoạch hệ thống cấp nước, thu gom và xử lý nước thải là gì? Chúng ta có thể làm gì để tối ưu hóa việc quản lý hệ thống nước và nước thải và cải cách khu vực công? Hướng tiếp cận tài chính nào có thể giúp huy động nguồn lực để mở rộng cơ sở hạ tầng nước và nước thải? Làm thế nào để tăng cường vai trò của cộng đồng tại địa phương trong việc quản lý nước và nước thải ở cấp độ các khu vực lân cận? Chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm của các thành phố khác trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ về nước sạch và vệ sinh tại Hà Nội.

Vấn đề thứ tư là các nguồn lực, các nguồn tài chính cho phát triển đô thị và phát triển nhà ở bền vững. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị và nhà ở đã không theo kịp nhu cầu ngày một tăng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nhu cầu nhà ở và đất đã vượt xa nguồn cung tại các thành phố đang tăng trưởng nhanh chóng tại châu Á – Thái Bình Dương. Như chúng ta đều biết, vấn đề “các thành phố giàu có và các chính quyền địa phương nghèo” cho thấy cần tiếp tục phân quyền hơn nữa cho các thành phố nhằm huy động các nguồn lực tài chính.

Trong khi một số nước châu Á chú trọng phát triển các hệ thống tài chính nhà ở một cách nghiêm túc trong những năm gần đây, một số nước khác tập trung vào hỗ trợ thể chế tài chính vi mô. Đất đai là nguồn tài nguyên tiềm năng và việc khai thác giá trị kinh tế của đất đai mở ra nguồn vốn tuyệt vời cho việc phát triển đô thị. Ngoài việc học hỏi những bài học kinh nghiệm từ suy thoái kinh tế toàn cầu, chúng ta cần hiểu rõ hơn về cơ cấu năng động của đất đô thị để phát triển thị trường đất đô thị ở Việt Nam như thế nào? Làm thế nào để chính quyền ở cấp quốc gia và địa phương có thể hỗ trợ khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính nhà ở cho đối tượng thu nhập thấp và trung bình? Có những công cụ tài chính nào phục vụ cho việc phát triển đô thị bao gồm cơ sở hạ tầng? Làm thế nào để sử dụng tốt hơn quan hệ đối tác công-tư cho phát triển đô thị? Đây là một thách thức hết sức khó khăn mà chúng tôi hy vọng sẽ được lắng nghe quan điểm và kinh nghiệm của các bạn.

Vấn đề cuối cùng là về vai trò của các bên tham gia khác nhau trong việc giải quyết biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu sẽ có ảnh hướng to lớn tới quá trình phát triển đô thị tương lai của khu vực châu Á. Các thành phố ven biển sẽ bị ảnh hưởng không chỉ bởi mực nước biển dâng cao mà còn từ những ảnh hưởng khí hậu nghiêm trọng khác như lũ lụt và bão. Các quốc gia đảo nhỏ, như Man-đi-vơ, Sri Lanka hay các đảo Thái bình dương có những nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu cụ thể. Kinh nghiệm của khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho thấy nhiều phương pháp thích ứng với biến đổi khí hậu đã được áp dụng. Chúng ta cần hiểu rõ vai trò của cộng đồng địa phương trong việc xây dựng những điểm định cư có khả năng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu nằm trong quy hoạch phát triển, thiết kế và nâng cấp cơ sở hạ tầng. Làm thế nào để chúng ta có thể tăng cường vai trò cộng đồng trong việc giải quyết các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dựa trên kiến thức dân gian, tài sản và kỹ năng của cộng đồng? Cần phải tăng cường khả năng ứng phó tại cộng đồng thông qua những cải thiện trong giáo dục đào tạo và văn hóa công cộng nhằm xây dựng các cộng đồng có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Nên bắt đầu từ đâu? Làm thế nào để mở rộng? Khu vực châu Á có khá nhiều kinh nghiệm trong việc tái xây dựng sau thiên tai – làm thế nào để áp dụng cách tiếp cận tái xây dựng chủ động tại cộng đồng, như cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, trong bối cảnh chịu tác động của biến đổi khí hậu trong đó lượng lũ lụt ngày một gia tăng. Một lần nữa, chúng ta cần khuyến khích sự chia sẻ những kinh nghiệm tốt trong lĩnh vực này.

3. NHỮNG THÁCH THỨC CỤ THỂ CỦA HÀ NỘI

Qua 10 thế kỉ, lịch sử Hà Nôi luôn gắn liền với quá trình đô thị hóa. Thành cổ Hà Nội, khu phố cố, khu phố Pháp được xem như trung tâm lịch sử, văn hóa và hành chính của thành phố. Thành phố có khoảng 50,000 người vào năm 1902 khi là thủ đô của thuộc địa Đông Dương và có khoảng hơn 800,000 người vào năm 1975 khi cuộc chiến giành độc lập kết thúc. Kể từ cải cách kinh tế vào năm 1986, dân số thành phố đã tăng đáng kể khoảng 3% mỗi năm và đạt 2,8 triệu người vào năm 2010 theo Dự báo Đô thị Hóa trên thế giới của Liên Hợp Quốc. Việc mở rộng biên giới hành chính của thành phố vào năm 2008 đã làm tăng gấp đôi dân số lên gần 6,4 triệu người. Tuy nhiên thành phố Hà Nội chỉ đứng thứ 62 trong các thành phố ở Châu Á về quy mô dân số và con số này sẽ tiếp tục gia tăng trong những thập kỷ tiếp theo.

Việc ra đời của chính sách Đổi Mới vào năm 1989 cũng là một bước ngoặt lớn trong quá trình thay đổi của Hà Nội. Với mức tăng trưởng kinh tế khoảng 10% mỗi năm, GDP của Hà Nôi tăng 11,2 lần trong giai đoạn 1985-2000 và bình quân GDP trên đầu người hiện nay của Hà Nội đã đạt $1700. Tỉ lệ đói nghèo tại Hà Nội đã giảm rõ rệt từ 62,7% vào năm 1993 xuống 16,1% vào năm 2005 và mục tiêu đặt ra cho năm 2010 là giảm xuống còn 5%.

Mức tăng trưởng rõ rệt của đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) tại Hà Nội và trong khu vực, vai trò mới của khu vực kinh tế địa phương ngoài quốc doanh, và việc tự do hóa thương mại và dịch vụ đã góp phần làm thay đổi cấu trúc của thành phố. Đã có nhiều thay đổi sâu sắc về xây dựng và phân phối nhà ở, với việc bùng nổ nhà ở tự xây trong thành phố và việc xuất hiện của các khu đô thị mới. Chỉ riêng trong năm 2009, tổng diện tích nhà ở xây mới là gần 2,3 triệu m2. Các dự án phát triển được tài trợ đã cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cơ bản của thành phố như mạng lưới đường xá, hệ thống cấp và thoát nước, và vệ sinh. Tỉ lệ chi tiêu ngân sách cho phúc lợi xã hội về giáo dục, y tế và bảo hiểm xã hội cũng tăng rõ rệt.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Hà Nội đang phải đối mặt với vô số khó khăn, ảnh hưởng từ sự bùng nổ dân số đô thị, lưu thông chủ yếu bằng xe máy, hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ công quá tải, sự xuống cấp của môi trường, và những tác động từ nền kinh tế liên tục tăng trưởng và hội nhập toàn cầu, và những thách thức này có thể đe dọa sự phát triển bền vững trên những khía cạnh khác nhau:

Phát triển kinh tế: thành phố đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế với lực lượng lao động có tay nghề thấp và sản phẩm có giá trị thấp. Theo những điều tra gần đây, có sự bất bình đẳng và chênh lệch thu nhập ngày càng tăng giữa các khu vực khác nhau của thành phố.

Phát triển xã hội: Sự thiếu hụt trong nguồn cung nhà ở với các dự án nhà ở mới tập trung chủ yếu vào nhóm cư dân có thu nhập cao. Hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị và cung cấp dịch vụ công còn nghèo nàn và thiếu hụt, bao gồm hệ thống giao thông và thoát nước quá tải cũng như các phương tiện y tế và giáo dục quá tải.

Môi trường: Môi trường ô nhiễm và xuống cấp đã trở nên nghiêm trọng bởi quá trình đô thị hóa tự phát, bùng nổ lưu thông bằng xe máy và việc khai thác tài nguyên nhanh. Hệ thống giao thông công cộng yếu kém đã daanxx đến những hậu quả nghiêm trọng về môi trường và xã hội.

Quy hoạch đô thị: Quy hoạch đô thị cho đến nay không theo kịp với việc mở rộng đô thị. Kiến trúc đô thị và di sản văn hóa không được quan tâm đúng mức dẫn tới việc phá hủy và mất đi các kiến trúc truyền thống và các di sản quan trọng, bao gồm sự xuống cấp của cây cầu di sản nổi tiếng thế giới Long Biên. Quy hoạch sử dụng đất không hiệu quả tạo điều kiện cho tệ đầu cơ gia tăng.

Quản trị địa phương: Đánh giá các chương trình đầu tư công chưa dựa trên các tiêu chí xem xét đến các hậu quả kinh tế, xã hội, tài chính và môi trường. Vẫn còn thiếu cơ chế huy động vốn cho phát triển đô thị. Hơn nữa, vẫn còn nhiều hạn chế về kỹ năng, kiến thức và nhận thức về quản lý đô thị của các cơ quan địa phương, đặc biệt là ở cấp quận và phường. Sự điều phối giữa các cơ quan nhà nước vẫn còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết.

Chào đón kỷ niệm Hà Nội 1000 năm, chúng tôi hoan nghênh nỗ lực hoàn thiện Quy hoạch tổng thể cho thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2050. Nỗ lực mang tầm nhìn dài hạn này là rất cần thiết để quy hoạch và quản lý những thay đổi diễn ra trong thành phố xinh đẹp này.

Thách thức lớn nhất là xác định được tầm nhìn cho công cuộc phát triển bền vững cho tất cả mọi người, theo đó Hà Nội trở thành một hiện thực tích cực cho tất cả mọi người, chứ không chỉ dành cho các nhà quy hoạch và quản lý đô thị. Vì quá trình đô thị hóa sẽ tiếp diễn, trong tương lại, Hà Nôi cần hoạt động hiệu quả hơn trên cương vị thủ đô của đất nước, và là động lực phát triển vùng và quốc gia. Những thách thức to lớn mà Quy hoạch này cần chỉ ra bao gồm:

• Làm thế nào để tăng chỉ số cạnh tranh không chỉ ở cấp độ quốc gia mà còn ở cấp độ vùng (Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Nội năm 2009 là rất thấp – đứng thứ 33 trong 63 thành phố và tỉnh)
• Khuyến khích phát triển phía bên kia sông Hồng and theo hành lang Hà Nội – Hải Phòng
• Cung cấp nhà ở với giá mà người dân có thể tiếp cận được cho khoảng 10 triệu dân trong vùng vào năm 2030
• Cung cấp cơ sở hạ tầng và dịch vụ đô thị, bao gồm hệ thống giao thông hoạt động hiệu quả, hệ thống cấp nước, vệ sinh, hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn, giáo dục và y tế
• Giảm nhẹ các tác động của thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu, đặc biệt lên người nghèo đô thị và các nhóm dễ bị tổn thương và thực hiện những chiến lược thích ứng thích hợp.

Các nhà quy hoạch cho thành phố Hà Nội một mặt cần tìm cách cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và tính cạnh tranh của thành phố. Mặt khác, cần bảo vệ di sản thiên nhiên và môi trường kiến trúc. Đây là một nhiệm vụ khó khăn nhưng cũng rất lý thú.

4. THÔNG TIN THỐNG KÊ

Tôi muốn các nhà lập chính sách chú ý đến một vài số liệu trích từ cuốn “Viễn cảnh đô thị hóa thế giới: Nhìn lại năm 2009”. Đây là những dữ liệu thống kê chính thức về đô thị hóa, do đồng nghiệp của chúng tôi ở Ban Dân số Liên Hợp Quốc phối hợp với các Cục thống kê trên thế giới chuẩn bị và cập nhật. Tôi đã tổng hợp chúng vào một vài bảng biểu để chỉ ra quy mô của quá trình đô thị hóa trong khu vực cũng như những dự báo đến năm 2050.

Như đã được trình bày trong báo cáo “Tình trạng Các thành phố thế giới”, đô thị hóa là một hiện tượng tích cực và tiến bộ chứa đựng cả các cơ hội và những thách thức. Vai trò của các nhà lập chính sách là giải quyết các thách thức và tận dụng các cơ hội. Vì mục tiêu này, họ cần nắm rõ tình trạng các thành phố và thị trấn, cả về chất lượng lẫn số lượng. Do đó tôi tin rằng những con số sau đây có thể cung cấp những thông tin nền hữu ích cho các chuyên gia chịu trách nhiệm quy hoạch cho sự phát triển tương lai của Hà Nội.

Nhìn qua các số liệu về tăng trưởng đô thị này, Hội nghị Hà Nội Thiên Niên Kỷ diễn ra rất đúng lúc. Tại UN-HABITAT, chúng tôi đang triển khai kế hoạch thể chế và chiến lược trung hạn với mục tiêu bao trùm là thúc đẩy đô thị hóa bền vững và chúng tôi đang phát động Chiến dịch Đô thị Thế giới đầy tham vọng, được điều hành bởi Giám đốc mới của chúng tôi, ông Joan Clos. Mục tiêu là để đưa ra những thay đổi trên thực tế, vì lợi ích người dân ở tất cả thành phố và thị trấn, theo đó, những khía cạnh quan trọng về đất đai, nhà ở, sinh kế và các dịch vụ được đảm bảo và tiếp cận được. Hà Nội giàu truyền thống lịch sử và những kinh nghiệm gần đây của thành phố là rất đáng khuyến khích, không chỉ cho khu vực Đông Nam Á mà còn cho cả toàn bộ các nước đang phát triển.

Là một thành viên Liên Hợp Quốc, chúng tôi cam kết sẽ làm việc với chính phủ để hỗ trợ xây dựng năng lực thể chế cần thiết ở tất cả các cấp. Các chính phủ sẽ phải ứng phó với biến đổi khí hậu, lũ lụt các các thiên tai khác, tiến hành giảm đói nghèo, bất bình đẳng, và cải thiện môi trường sống hiện tại và cho các thế hệ tương lai. Thảo luận của quý vị tại hội nghị này sẽ giúp các nhà chức trách ở Việt Nam tìm ra một hướng đi khả thi để đạt được mục tiêu chung đó.

DANIEL BIAU, Giám đốc Ban Hợp tác khu vực và hợp tác kỹ thuật Chương trình Định cư Con người của LHQ (UN-Habitat)

Theo ông Nguyễn Thế Hùng - Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc (QH-KT) Hà Nội, quy hoạch phải luôn đi trước, có chất lượng cao và phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo Thủ đô phát triển đồng bộ, bền vững.

Bước tiến mới trong quy hoạch đô thị

Trong quá trình phát triển của Thủ đô, quy hoạch xây dựng là động lực, cũng là công cụ góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.

Công tác lập quy hoạch thật sự mang tính dân chủ với sự tham gia sâu rộng của cộng đồng nhân dân.

Trước khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội triển khai công tác quy hoạch theo định hướng của đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 (phê duyệt năm 1998) áp dụng cho phạm vi địa giới hành chính cũ với diện tích 921 km2, số dân 2,5 triệu người.

Tuy nhiên, các đồ án mới chỉ dừng lại ở quy hoạch sử dụng đất đai và quy hoạch giao thông tỷ lệ 1/5.000-1/2.000 và chưa có những quy định cụ thể về thiết kế đô thị. Hệ thống hạ tầng xã hội và các quy hoạch chuyên ngành về hạ tầng kỹ thuật cũng mới chỉ được nghiên cứu ở tỷ lệ 1/25.000-1/10.000.

Sau khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, Hà Nội có diện tích 3.344,5 km2 với số dân gần 6,5 triệu người, đòi hỏi phải có một định hướng dài hạn để vươn mình trở thành Thủ đô lớn, tầm cỡ trong khu vực và thế giới. Nhất là sau khi Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Hà Nội đứng trước cơ hội và thách thức mới.

Quy hoạch trong thời gian này được đặc biệt coi trọng. Thành ủy đã ban hành Chương trình 06 về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị thành phố Hà Nội, giai đoạn 2011-2015” và chỉ đạo UBND thành phố, các cấp, ngành tập trung thực hiện. Công tác quy hoạch giai đoạn này đã được triển khai đồng bộ, tổng thể trên diện rộng và gắn với việc hoạch định các không gian phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là lần đầu một khối lượng lớn các đồ án quy hoạch, được triển khai theo Luật Quy hoạch đô thị; công tác lập quy hoạch thật sự mang tính dân chủ với sự tham gia sâu rộng của cộng đồng nhân dân.

Ông Nguyễn Thế Hùng - Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội. Sau hơn 3 năm triển khai với một khối lượng lớn các đồ án quy hoạch, quy chế, quy định quản lý đến nay, 33/35 đồ án quy hoạch phân khu, 30/33 các đồ án Quy hoạch chung đã được thông qua tập thể UBND Thành phố. Các Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc cũng đã được triển khai phục vụ công tác quản lý.

Song song với đó, một số Quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị cũng được khẩn trương thực hiện, cụ thể, trên 420 hồ sơ nhiệm vụ, đồ án quy hoạch chi tiết khu chức năng đô thị, hai bên tuyến đường đã được phê duyệt. Một số đồ án quy hoạch chi tiết quan trọng đã hoàn thành: Khu trung tâm Tây Hồ Tây; Quy hoạch chi tiết hai bên tuyến đường Nhật Tân - Nội Bài.

Nhờ thực hiện khẩn trương công tác quy hoạch, cho nên lĩnh vực đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố khá sôi động, nổi bật là lĩnh vực giao thông và phát triển nhà ở… Công tác quy hoạch cũng nhằm giảm áp lực về dân số, môi trường đối với khu vực nội thành cũ và trung tâm Thành phố; có điều kiện phát triển các vành đai xanh, không gian mở cho Thủ đô.

Quy hoạch đi trước, giảm áp lực trung tâm thủ đô

Nhìn nhận những lợi thế, cơ hội và khó khăn, thách thức cho công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quy hoạch, bên cạnh những thành tựu, công tác quy hoạch vẫn còn những hạn chế, tồn tại. Đó là chất lượng một số đồ án quy hoạch trong giai đoạn trước còn chưa đạt yêu cầu dẫn đến việc phải điều chỉnh; việc cải tạo các khu chung cư cũ, di dời các trường đại học, cơ sở y tế, cơ sở công nghiệp ra ngoài khu vực nội đô có quan tâm, nhưng còn chậm…

“Quy hoạch trên toàn thành phố phải mang tính khả thi cao, bảo đảm tính hệ thống, tầng bậc với sự thống nhất của cộng đồng dân cư, tạo thành bộ công cụ hoàn chỉnh. Cần đảm bảo sự thống nhất giữa các quy hoạch nhằm hoàn thiện hệ thống hạ tầng, giải quyết các vấn đề dân sinh bức xúc, nhất là tình trạng quá tải hiện nay trong các khu vực nội đô…” – Giám đốc Sở QH-KT nói.

Về việc triển khai công tác quy hoạch trong thời gian tới, Hà Nội sẽ lập kế hoạch dài hạn cải tạo đô thị, thực hiện bằng các dự án lớn (trên một khu vực đô thị rộng) để kết nối hạ tầng kỹ thuật, từng bước chỉnh trang khu đô thị cũ. Bên cạnh đó, sẽ tập trung phát triển mạnh khu vực đô thị phía Bắc sông Hồng và phía Tây nhằm giãn dân ra khỏi khu vực nội đô. Quy hoạch phải luôn đi trước, có chất lượng cao và phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo Thủ đô phát triển đồng bộ, bền vững.

Hồng Khanh
(VietNamNet)

Trong quá trình trùng tu di tích không chỉ cần giữ gìn từng bức chạm lộng, viên ngói rêu phong. Không gian văn hóa - kiến trúc của di sản cũng là đối tượng mà việc bảo tồn phải chú ý, nếu không sẽ dẫn tới “thảm họa trùng tu”.

Giữ lại những gì tích tụ qua thời gian

Sau khi đình Chu Quyến ở xã Chu Minh, huyện Ba Vì, Hà Nội hoàn thành trùng tu (dự án từng đoạt giải cao nhất về bảo tồn di sản năm 2010 tại Hội nghị của Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế khu vực châu Á) và đưa vào sử dụng trở lại, một cụ cao tuổi trong làng vui sướng ôm chầm lấy cây cột đình đã gắn bó bao năm - KTS Lê Thành Vinh - Viện trưởng Viện Bảo tồn di tích nhớ lại. Viện Bảo tồn di tích là đơn vị thực hiện công trình này năm 2008. Việc hạ giải rất tốn công, dỡ mái do thợ cả (bậc 5) thực hiện, từng viên ngói được truyền tay nhau đặt vào xe đẩy có lót rơm. Những cột cũ dù bị mối mọt nhưng không bỏ đi, dù phải thay cốt, gắn vá từng vết nứt, để giữ được dấu ấn lịch sử, thời gian. Theo KTS Lê Thành Vinh, “dự án trùng tu này thành công không phải chỉ do tháo dỡ, lắp dựng theo công nghệ truyền thống. Quan trọng là đơn vị trùng tu giữ được những gì tích tụ qua thời gian, giúp chúng trở nên bền vững, đưa di tích trở về cái vốn có, hài hòa trong khung cảnh chung của làng quê và gắn bó với con người”.

Qua nghiên cứu và tham gia trùng tu nhiều di tích, KTS Lê Thành Vinh cho rằng, thực tế không phải chỉ cần giữ gìn những bức chạm, từng viên ngói rêu phong, bởi đó mới chỉ là phần kiến trúc. Không gian văn hóa - kiến trúc của di sản cũng là đối tượng mà ngành bảo tồn cần chú ý - đây là những thực thể được tạo lập và định hình trong quá trình hình thành, tồn tại, gắn với các hoạt động chức năng của công trình. Không gian văn hóa - kiến trúc gồm 3 yếu tố: cấu trúc không gian (định vị không gian, theo minh triết Á Đông, đây được coi phần hình), nội thất trang trí (bài trí theo mục đích, phần lý), hoạt động chức năng (vận hành sử dụng, phần khí); làm nên đặc trưng và giá trị riêng biệt của di sản. Cùng một mặt bằng nhà truyền thống với cột, kèo, nếu sử dụng làm đình, đền, hay chùa, việc bài trí sắp xếp, hệ thống thờ tự sẽ khác nhau. Bên cạnh đó, không gian này còn thay đổi theo thời gian, đặc biệt khi có và không có các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng diễn ra.

Cấy ghép hợp lý

Không gian văn hóa kiến trúc là sự cộng hưởng hình, lý, khí. Về cảm quan trực giác, cả hai phần hình, lý là hữu hình; phần khí - hồn cốt của không gian này lại vô hình. Hữu hình và vô hình, vật thể và phi vật thể gắn bó hữu cơ với nhau, và thường cái vô hình gắn với câu chuyện văn hóa, tín ngưỡng. Do vậy, khi trùng tu, cần tiếp cận toàn diện mới hy vọng chạm được phần lõi của di sản. Tuy nhiên, theo KTS Lê Thành Vinh, việc trùng tu di tích hiện nay lại thường tách bạch giữa cái hữu hình và vô hình, di sản phi vật thể và di sản vật thể. Thực tế, do không nhận diện được không gian văn hóa - kiến trúc, nên đã có một số thảm họa trùng tu. Ví dụ, một số khu di tích được phục dựng nhưng thực chất là xây mới toàn bộ trên nền phế tích. Các khu di tích này gồm nhiều tòa nhà, chưa nói đến công trình phục dựng chưa có căn cứ, mà bài trí nội thất là vấn đề nan giải, khó tạo ra không gian liên quan đến lịch sử, văn hóa. Có di tích được trùng tu nhưng khi hoàn thành lại không tương thích, phá vỡ cảnh quan xung quanh. Điều đó không chỉ xảy ra ở các di tích nhỏ, mà cả di tích tầm quốc gia…

 Khi đặt một vật thể mới bên cạnh vật thể đã tồn tại, thì phải có sự kết nối, bởi rất có thể nó không được chấp nhận bên cạnh công trình đã tích tụ văn hóa dày đặc, thể hiện ở việc công trình trở nên xa lạ với đời sống con người xung quanh. PGS.TS. Phạm Thúy Loan, Phó viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia

Trùng tu di tích để phục vụ nhu cầu của đời sống hiện đại là cần thiết, nhưng đơn vị thực hiện cần nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố về văn hóa và kiến trúc. Ví dụ Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội hiện nay là tổng thể hài hòa, nhưng nếu bóc tách, không cái nào cùng thời với cái nào, gần nhất là nhà Thái Học dựng năm 2000 và không dựa trên chi tiết cổ. “Việc cấy ghép phải được thực hiện một cách hợp lý, để thực thể sống ấy chấp nhận mới có thể tồn tại. Điều đó cho thấy, với hoạt động trùng tu, sự tiếp nối, phát triển nhuần nhuyễn rất quan trọng, để không phá vỡ không gian vốn có. Và nhận diện được không gian văn hóa - kiến trúc một cách đầy đủ sẽ góp phần giúp di sản được bảo tồn tốt nhất” - KTS Lê Thành Vinh nói.

Lê Thủy 
(Báo Đại biểu Nhân dân) 

Chức năng:

Phòng Kế hoạch - Tổng hợp là phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, có chức năng tham mưu, đầu mối giúp việc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở  trong công tác kế hoạch - tổng hợp trong nội bộ sở; công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn 05 năm và hàng năm; các chương trình, dự án trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở được UBND Thành phố giao.

Nhiệm vụ:

2.1. Công tác kế hoạch - tổng hợp

a) Chủ trì tổ chức lập và điều chỉnh chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm về quy hoạch kiến trúc trên địa bàn Thành phố (trong nội bộ Sở, các quận, huyện, thị xã, Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội và các Sở ngành có liên quan). Tham mưu giúp Giám đốc Sở trong việc công bố, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, giám sát thông tin, tuyên truyền, phổ biến và thực hiện các chương trình, kế hoạch về quy hoạch kiến trúc sau khi được phê duyệt, tổng hợp kết quả thực hiện.

b) Theo dõi, tổng hợp, báo cáo định kỳ 6 tháng, 1 năm và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với UBND Thành phố, Bộ Xây dựng và cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp ngành theo quy định của Bộ Xây dựng và sự phân công của UBND Thành phố.

c) Xây dựng, thẩm định các kế hoạch, chương trình công tác (dài hạn, trung hạn, hàng năm, quý, tháng, tuần) của Sở; Cụ thể hóa các ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Sở thành các nhiệm vụ cụ thể để các phòng, ban, đơn vị thực hiện; Kiểm tra, đôn đốc, phát hiện khó khăn vướng mắc, đề xuất các giải pháp để thực hiện kế hoạch, chương trình, nhiệm vụ công tác đúng thời hạn và đảm bảo chất lượng.

d) Đầu mối liên hệ với Thành ủy, UBND Thành phố, Bộ Xây dựng, các sở, ban, ngành để kịp thời nắm bắt các chủ trương, chương trình công tác liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Sở.

đ) Theo dõi, tổng hợp thông tin và báo cáo thống kê định kỳ về tình hình thực hiện quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của Sở; Tổng hợp báo cáo công tác tuần, tháng, quý, năm của các đơn vị; Chủ trì, thực hiện, tham dự, báo cáo, dự thảo Thông báo kết luận, đôn đốc, báo cáo tình hình thực hiện các kết luận chỉ đạo của lãnh đạo Sở tại các cuộc họp giao ban.

e) Chủ trì hướng dẫn và giám sát, kiểm tra các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch; Giải quyết các thủ tục hành chính, công việc liên quan đến các đồ án do Thành phố giao Sở Quy hoạch - Kiến trúc làm chủ đầu tư theo quy trình nội bộ của Sở.

g) Chủ trì phối hợp Văn phòng Sở dự thảo Phương án phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm gửi Sở Tài chính thẩm định, phê duyệt.

h) Thực hiện nhiệm vụ khác được Lãnh đạo Sở giao.

2.2. Công tác chuyên môn về quy hoạch kiến trúc

a) Hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án được duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở theo địa bàn được phân công.

b) Tổ chức thẩm định, trình UBND Thành phố phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố hoặc có văn bản góp ý về chuyên môn để UBND cấp huyện phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc tại địa bàn được phân công theo quy định của pháp luật.

c) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt theo địa bàn được phân công.

d) Hướng dẫn các chủ đầu tư trong việc tổ chức lập các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị theo địa bàn được phân công thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố.

đ) Quản lý và tổ chức thực hiện các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được phê duyệt theo địa bàn được phân công trên địa bàn thành phố theo phân cấp và phân công của lãnh đạo Sở. Phối hợp với Văn phòng Sở và các phòng chuyên môn liên quan tổ chức công bố, bàn giao, công khai các quy hoạch, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị đã được phê duyệt trên địa bàn Thành phố.

e) Giải quyết các hồ sơ Thủ tục hành chính về quy hoạch kiến trúc, công tác chuyên môn theo địa bàn được phân công thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Quy hoạch - Kiến trúc.

g) Đầu mối hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư quy hoạch đô thị, điều kiện năng lực của các cá nhân và tổ chức tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng hạng II và hạng III; Về thi tuyển ý tưởng quy hoạch; Thi tuyển, tuyển chọn phương án thiết kế quy hoạch, kiến trúc công trình trên địa bàn thành phố.

h) Tham gia kiểm tra, giám sát, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ đối với Phòng Quản lý đô thị, Phòng kinh tế và hạ tầng các quận, huyện, thị xã trong công tác quy hoạch quy hoạch kiến trúc;

i) Đầu mối tham gia với các Sở, ngành trong công tác góp ý, thẩm định các Đề án, quy hoạch ngành, chuyên ngành, mạng lưới… (trừ nội dung về hạ tầng kỹ thuật).

k) Theo dõi, tham gia và phối hợp với Thanh tra Sở, các phòng chuyên môn, các cơ quan chức năng khác để giám sát, kiểm tra việc thực hiện xây dựng theo quy hoạch tại địa bàn, lĩnh vực được phân công.

l) Đầu mối chủ trì, tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực được phân công.

m) Là Thường trực: Hội đồng Kiến trúc quy hoạch, Hội đồng khoa học, Hội đồng thẩm định QHXD trên địa bàn Thành phố; Cử thành viên tham gia các Hội đồng, Tổ công tác theo chỉ đạo của Lãnh đạo Sở.

n) Chủ trì thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quy hoạch kiến trúc theo quy định của pháp luật và sự phân công ủy quyền của UBND thành phố.

2.3. Công tác pháp chế:

Phối hợp Văn phòng và Thanh tra Sở cập nhật, tổng hợp, nghiên cứu đề xuất việc đưa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ vào thực tiễn quản lý, công tác của Sở và hướng dẫn cho các Sở, ngành, địa phương thực hiện.

2.4. Địa bàn quản lý: thực hiện theo Quyết định phân công của Giám đốc Sở.

Cơ cấu chức danh và biên chế:

3.1. Cơ cấu chức danh:

a) Lãnh đạo Phòng Kế hoạch - Tổng hợp: Trưởng phòng và các Phó Trưởng phòng:

- Trưởng phòng: Là công chức được bổ nhiệm chức danh Trưởng phòng, trực tiếp giúp Lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác của phòng Kế hoạch - Tổng hợp. Trưởng phòng có trách nhiệm phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Phó Trưởng phòng và CBCC báo cáo Ban Giám đốc và gửi các đơn vị thuộc Sở để phối hợp thực hiện.

- Phó Trưởng phòng: Trực tiếp giúp Trưởng phòng, lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác được phân công trong phòng; chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.

b) Các chức danh khác thuộc Phòng Kế hoạch - Tổng hợp:

- Chuyên viên chính;

- Chuyên viên.

Từng cán bộ công chức thuộc Phòng phải chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các nhiệm vụ công tác được phân công thực hiện.

Các chức danh trên đều phải đáp ứng các quy định cụ thể về điều kiện, yêu cầu về trình độ, tiêu chuẩn của từng chức danh theo quy định của Nhà nước, Thành phố và của Sở.

3.2. Biên chế:

Biên chế hành chính của Phòng Kế hoạch - Tổng hợp nằm trong biên chế hành chính của Sở được UBND thành phố giao hàng năm.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, Trưởng phòng có trách nhiệm xây dựng, đề xuất số biên chế của phòng đáp ứng yêu cầu công tác hàng năm.

Chức năng:

Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật là phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, có chức năng tham mưu, đầu mối giúp việc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở  trong công tác quản lý nhà nước về quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và nội dung liên quan trên địa bàn Thành phố.

Nhiệm vụ:

a) Hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án được duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở về quy hoạch hạ tầng kỹ thuật.

b) Giải quyết các hồ sơ, thủ tục hành chính đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật; Thẩm định hồ sơ Chỉ giới đường đỏ trình UBND Thành phố phê duyệt hoặc Sở Quy hoạch - Kiến trúc phê duyệt theo ủy quyền; cung cấp Hồ sơ Chỉ giới đường đỏ, số liệu về hạ tầng kỹ thuật theo thẩm quyền của Sở; Thẩm định các nhiệm vụ, hồ sơ thiết kế cắm mốc giới quy hoạch trình cấp thẩm quyền duyệt theo quy định.

c) Phối hợp với các phòng chuyên môn tổ chức thẩm định, trình UBND Thành phố phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố hoặc có văn bản góp ý về chuyên môn để UBND cấp huyện phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc quy hoạch xây dựng xã, quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn thành phố theo quy định của pháp luật.

d) Phối hợp với các phòng chuyên môn hướng dẫn các chủ đầu tư trong việc tổ chức lập các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị (phần hạ tầng kỹ thuật) thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố.

đ) Quản lý và tổ chức thực hiện các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được phê duyệt trên địa bàn thành phố theo phân cấp và phân công của lãnh đạo Sở. Phối hợp với Văn phòng Sở và các phòng chuyên môn liên quan tổ chức công bố, bàn giao phổ biến công khai các quy hoạch, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị đã được phê duyệt trên địa bàn Thành phố.

e) Theo dõi, tham gia và phối hợp với Thanh tra Sở, các phòng chuyên môn, các cơ quan chức năng khác để giám sát, kiểm tra việc thực hiện xây dựng theo quy hoạch đối với các hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý các hồ sơ mốc giới quy hoạch, chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng.

g) Đầu mối tham gia với các sở, ngành trong công tác góp ý, thẩm định các đồ án quy hoạch, Đề án, Kế hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật.

h) Phối hợp với Phòng Kế hoạch - Tổng hợp: hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề kỹ sư quy hoạch đô thị, điều kiện năng lực của các cá nhân và tổ chức tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng hạng II và hạng III; Về thi tuyển ý tưởng quy hoạch; Thi tuyển, tuyển chọn phương án thiết kế quy hoạch, kiến trúc công trình (hạ tầng kỹ thuật) trên địa bàn thành phố.

i) Phối hợp với Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng chuyên môn liên quan tham gia kiểm tra, giám sát, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở (về hạ tầng kỹ thuật) đối với Phòng Quản lý đô thị, Phòng kinh tế và hạ tầng các quận, huyện, thị xã theo địa bàn, lĩnh vực được phân công.

k) Phối hợp với Văn phòng Sở và các Phòng chuyên môn liên quan tổ chức công bố, bàn giao phổ biến công khai các hồ sơ chỉ giới đường đỏ, hồ sơ cắm mốc giới quy hoạch, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị đã được phê duyệt trên địa bàn Thành phố theo nhiệm vụ được UBND Thành phố và lãnh đạo Sở giao thực hiện.

l) Cử thành viên tham gia các Hội đồng khoa học, Hội đồng thẩm định quy hoạch xây dựng, Hội đồng Kiến trúc quy hoạch và các Hội đồng, Tổ công tác theo chỉ đạo của Lãnh đạo Sở.

m) Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực được phân công;

n) ) Thực hiện nhiệm vụ khác được Lãnh đạo Sở giao.

Cơ cấu chức danh và biên chế:

3.1. Cơ cấu chức danh:

a) Lãnh đạo Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật: Trưởng phòng và các Phó Trưởng phòng:

- Trưởng phòng: Là công chức được bổ nhiệm chức danh Trưởng phòng, trực tiếp giúp Lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác của Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật. Trưởng phòng có trách nhiệm phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Phó Trưởng phòng và CBCC báo cáo Ban Giám đốc và gửi các đơn vị thuộc Sở để phối hợp thực hiện.

- Phó Trưởng phòng: Trực tiếp giúp Trưởng phòng, lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác được phân công trong phòng; chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.

b) Các chức danh khác thuộc Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật:

- Chuyên viên chính;

- Chuyên viên.

Từng cán bộ công chức thuộc Phòng phải chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các nhiệm vụ công tác được phân công thực hiện.

Các chức danh trên đều phải đáp ứng các quy định cụ thể về điều kiện, yêu cầu về trình độ, tiêu chuẩn của từng chức danh theo quy định của Nhà nước, Thành phố và của Sở.

3.2. Biên chế:

Biên chế hành chính của Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật nằm trong biên chế hành chính của Sở được UBND thành phố giao hàng năm.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, Trưởng phòng có trách nhiệm xây dựng, đề xuất số biên chế của phòng đáp ứng yêu cầu công tác hàng năm.

Chức năng:

Phòng Quy hoạch kiến trúc 1 là phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, có chức năng tham mưu, đầu mối giúp việc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở  trong công tác quản lý nhà nước về quy hoạch kiến trúc theo địa bàn được phân công.

Nhiệm vụ:

2.1. Công tác chuyên môn về quy hoạch kiến trúc

a) Hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án được duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở theo địa bàn được phân công.

b) Tổ chức thẩm định, trình UBND Thành phố phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố hoặc có văn bản góp ý về chuyên môn để UBND cấp huyện phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc tại địa bàn được phân công theo quy định của pháp luật.

c) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt theo địa bàn được phân công.

d) Hướng dẫn các chủ đầu tư trong việc tổ chức lập các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị theo địa bàn được phân công thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố.

đ) Hướng dẫn UBND cấp huyện trong việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng xã, quy hoạch xây dựng nông thôn theo phân cấp trên địa bàn được phân công.

e) Quản lý và tổ chức thực hiện các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được phê duyệt trên địa bàn thành phố theo phân cấp và địa bàn được phân công. Phối hợp với Văn phòng Sở và các phòng chuyên môn liên quan tổ chức công bố, bàn giao, công khai các quy hoạch, quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị đã được phê duyệt trên địa bàn Thành phố.

g) Giải quyết các hồ sơ Thủ tục hành chính về quy hoạch kiến trúc, công tác chuyên môn theo địa bàn được phân công thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Quy hoạch - Kiến trúc.

h) Phối hợp với Phòng Kế hoạch - Tổng hợp: hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư quy hoạch đô thị, điều kiện năng lực của các cá nhân và tổ chức tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng hạng II và hạng III; Về thi tuyển ý tưởng quy hoạch; Thi tuyển, tuyển chọn phương án thiết kế kiến trúc công trình trên địa bàn thành phố; Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở đối với Phòng quản lý đô thị, Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc UBND cấp huyện.

i) Phối hợp với Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật tham gia với các sở, ngành trong công tác góp ý, thẩm định các Đề án, quy hoạch ngành, chuyên ngành, mạng lưới …

k) Phối hợp với Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật tham gia kiểm tra, giám sát, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở đối với Phòng Quản lý đô thị, Phòng kinh tế và hạ tầng các quận, huyện, thị xã theo địa bàn, lĩnh vực được phân công.

l) Theo dõi, tham gia và phối hợp với Thanh tra Sở, các phòng chuyên môn, các cơ quan chức năng khác để giám sát, kiểm tra việc thực hiện xây dựng theo quy hoạch tại địa bàn, lĩnh vực được phân công.

m) Cử thành viên tham gia các Hội đồng khoa học, Hội đồng thẩm định quy hoạch xây dựng, Hội đồng Kiến trúc quy hoạch và các Hội đồng, Tổ công tác theo chỉ đạo của Lãnh đạo Sở.

n) Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực được phân công;

o) Thực hiện nhiệm vụ khác được Lãnh đạo Sở giao.

2.2. Địa bàn quản lý: thực hiện theo Quyết định phân công của Giám đốc Sở.

Cơ cấu chức danh và biên chế:

3.1. Cơ cấu chức danh:

a) Lãnh đạo Phòng Quy hoạch kiến trúc 1: Trưởng phòng và các Phó Trưởng phòng:

- Trưởng phòng: Là công chức được bổ nhiệm chức danh Trưởng phòng, trực tiếp giúp Lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác của Phòng Quy hoạch kiến trúc 1. Trưởng phòng có trách nhiệm phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Phó Trưởng phòng, CBCC báo cáo Ban Giám đốc và gửi các đơn vị thuộc Sở để phối hợp thực hiện.

- Phó Trưởng phòng: Trực tiếp giúp Trưởng phòng, lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác được phân công trong phòng; chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.

b) Các chức danh khác thuộc Phòng Quy hoạch kiến trúc 1:

- Chuyên viên chính;

- Chuyên viên.

Từng cán bộ công chức thuộc Phòng phải chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các nhiệm vụ công tác được phân công thực hiện.

Các chức danh trên đều phải đáp ứng các quy định cụ thể về điều kiện, yêu cầu về trình độ, tiêu chuẩn của từng chức danh theo quy định của Nhà nước, Thành phố và của Sở.

3.2. Biên chế:

Biên chế hành chính của Phòng Quy hoạch kiến trúc 1 nằm trong biên chế hành chính của Sở được UBND thành phố giao hàng năm.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, Trưởng phòng có trách nhiệm xây dựng - đề xuất số biên chế của phòng đáp ứng yêu cầu công tác hàng năm.

Chức năng:

Thanh tra Sở Quy hoạch - Kiến trúc là một đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở có con dấu riêng giúp Giám đốc Sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Phối hợp thực hiện công tác pháp chế trong phạm vi quản lý của Sở Quy hoạch - Kiến trúc.

Thanh tra Sở chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra Thành phố và  chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây dựng dưới sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc Sở.

Nhiệm vụ:

2.1. Thanh tra chuyên ngành:

a) Xây dựng kế hoạch thanh tra trình Giám đốc Sở phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra thuộc trách nhiệm của Thanh tra Sở; hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở.

b) Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của Sở.

c) Thanh tra, kiểm tra đối với tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý của Sở, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm.

d) Thanh tra vụ việc khác do Giám đốc Sở giao.

đ) Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, đơn vị thuộc Sở thực hiện quy định của pháp luật về thanh tra.

e) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Giám đốc Sở, Thanh tra Sở và các cơ quan thanh tra, kiểm toán các cấp.

g) Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Sở đối với vụ việc thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở khi cần thiết.

h) Đầu mối tham mưu báo cáo Giảm đốc Sở cử thành viên tham gia các đoàn thanh tra liên ngành của Thành phố và tổng hợp nội dung giải quyết có liên quan.

k) Tổng hợp và thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên, đột xuất về công tác thanh tra chuyên ngành theo quy định.

2.2. Thanh tra hành chính:

2.2.1. Công tác giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo:

a) Thực hiện nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

b) Hướng dẫn các phòng, ban, đơn vị thuộc Sở thực hiện xử lý đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Phối hợp với các đơn vị thuộc Sở giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể theo quy định.

c) Xác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở khi được giao.

d) Xem xét, kết luận nội dung khiếu nại, tố cáo mà thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Sở đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường hợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại theo quy định.

đ) Thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của phòng, ban, đơn vị thuộc Sở trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến nghị các biện pháp tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc phạm vi quản lý của Sở.

e) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo của Giám đốc Sở.

g) Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo.

2.2.2. Công tác phòng chống tham nhũng:

a) Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở theo quy định của pháp luật hoặc phân công của UBND Thành phố.

b) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng của phòng, ban, đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở.

c) Phối hợp với cơ quan Kiểm toán nhà nước, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra vụ việc tham nhũng.

d) Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, tiết kiệm chống lãng phí của Sở.

đ) Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở.

2.2.3. Công tác tiếp công dân:

Phối hợp với Văn phòng Sở, các phòng, ban, đơn vị thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân theo quy định của pháp luật về tiếp công dân.

2.3. Công tác pháp chế:

Phối hợp với Văn phòng Sở: tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các phòng, ban, đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở trong việc thực hiện pháp luật thuộc lĩnh vực thanh, kiểm tra quy hoạch - kiến trúc; công tác theo dõi thi hành pháp luật; công tác rà soát, kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quy hoạch - kiến trúc.

2.4. Thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ khác về công tác thanh tra:

a) Yêu cầu Trưởng các phòng, ban, đơn vị thuộc Sở báo cáo về công tác thanh tra; tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra thuộc phạm vi quản lý của Sở.

b) Khi cần thiết, yêu cầu các cơ quan, đơn vị có liên quan cử, trưng tập cán bộ, công chức tham gia Đoàn thanh, kiểm tra.

c) Tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của Sở.

d) Phối hợp Văn phòng Sở xây dựng dự toán cho các chương trình hoạt động thanh tra và đồng phục thanh tra hàng năm của Thanh tra Sở.

đ) ) Thực hiện nhiệm vụ khác được Lãnh đạo Sở giao.

Cơ cấu chức danh và biên chế:

3.1. Cơ cấu chức danh:

a) Lãnh đạo Thanh tra: Chánh Thanh tra và các Phó Chánh Thanh tra.

- Chánh Thanh tra: do Giám đốc Sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra Thành phố; trực tiếp giúp Lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác của Thanh tra Sở và thực hiện các nhiệm vụ của Chánh Thanh tra theo quy định của pháp luật.

Chánh Thanh tra Sở có trách nhiệm phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Phó Chánh thanh tra và CBCC, nhân viên của Thanh tra Sở báo cáo Ban Giám đốc và gửi các đơn vị thuộc Sở để phối hợp thực hiện.

- Các Phó Chánh Thanh tra: do Giám đốc Sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh Thanh tra Sở và theo quy định; trực tiếp giúp Chánh Thanh tra, lãnh đạo Sở quản lý, tổ chức, triển khai các nhiệm vụ công tác của Thanh tra Sở; chịu trách nhiệm trước Chánh Thanh tra, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.

b) Các chức danh khác thuộc Thanh tra Sở:

- Thanh tra viên chính, thanh tra viên: là công chức nhà n­ước thuộc Sở Quy hoạch - Kiến trúc, đư­ợc bổ nhiệm và cấp thẻ Thanh tra viên để thực hiện nhiệm vụ của thanh tra quy hoạch kiến trúc. Thanh tra viên được bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định của pháp luật.

- Chuyên viên chính, Chuyên viên: các chức danh này sẽ phải hoàn thiện thủ tục để đư­ợc bổ nhiệm và cấp thẻ Thanh tra viên.

Từng cán bộ công chức thuộc Thanh tra Sở phải chịu trách nhiệm trước Chánh Thanh tra, trước Lãnh đạo Sở và trước pháp luật về các nhiệm vụ công tác được phân công thực hiện, các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật đối với Thanh tra viên.

Các chức danh trên đều phải đáp ứng các quy định cụ thể về điều kiện, yêu cầu về trình độ, tiêu chuẩn của từng chức danh theo quy định của Nhà nước, Thành phố và của Sở.

3.2. Biên chế:

Biên chế hành chính của Thanh tra nằm trong biên chế hành chính của Sở được UBND thành phố giao hàng năm.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, Chánh Thanh tra có trách nhiệm xây dựng và đề xuất số biên chế của đơn vị đáp ứng yêu cầu công tác hàng năm.
Page 7 of 11

Trạng thái truy cập

Đang có 92 khách và không thành viên đang online

Thông tin về Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội

Sở Quy hoạch - Kiến trúc là cơ quan chuyên môn của UBND Thành phố Hà Nội, có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND thành phố Hà Nội thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch - kiến trúc xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn... và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác được phân cấp, ủy quyền của UBND Thành phố theo quy định của pháp luật.

Địa chỉ cơ quan: 31b phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Điện thoại liên hệ: 0243.8232312; Đường dây nóng: 0243.37325198

Top
We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…