Giới thiệu (4)

1. Trình ủy ban nhân dân Thành phố:
a) Dự thảo các quyết định và các văn bản quy định việc phân công, phân cấp và ủy quyền trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở thuộc phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của ủy ban nhân dân Thành phố;
b) Dự thảo quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm, các chương trình, dự án trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở được ủy ban nhân dân Thành phố giao;
c) Dự thảo chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở trên địa bàn, đảm bảo phù họp với mục tiêu và nội dung chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước của Ủy ban nhân dân Thành phố;
d) Xây dựng dự thảo các văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh đối với cấp trưởng, cấp phó của các đơn vị trực thuộc Sở theo quy định của pháp luật;
đ) Phối hợp với Sở Xây dựng và các sở, ngành có liên quan xây dựng dự thảo các văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh đối với cấp trưởng, cấp phó của Phòng Quản lý đô thị, Phòng Kinh tế và Hạ tầng các quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố.

2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố:
a) Dự thảo các quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở;
b) Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, tổ chức lại, giải thề các đơn vị trực thuộc Sở theo quy định của pháp luật.

3. Hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, các quy hoạch phát triển, kế hoạch, chương trình, dự án đã được phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin ve các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở.

4. về quy hoạch xây dựng, kiến trúc (gồm: Quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn, quy hoạch xây dựng các khu chức năng đặc thù; thiết kế đô thị, quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị):
a) Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch xây dựng, kiến trúc, các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt các loại đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị;
b) Tổ chức lập, thẩm định quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thuộc thẩm quyền phê duyệt và ban hành của Ủy ban nhân dân Thành phô; hướng dân và phối họp với Ủy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã trong việc lập, thẩm định các quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thuộc thẩm quyền phê duyệt và ban hành của ủy ban nhân dân cấp huyện; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành;
c) Tổ chức lập, thẩm định, trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt hoặc văn bản góp ý kiến để Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã trình cấp có thẩm quyền thẩm định theo phân cấp, phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật;
d) Hướng dẫn các chủ đầu tư trong việc tổ chức lập các đồ án quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân Thành phố;
đ) Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã trong việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch chung xây dựng xã và quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn xã theo phân câp;
e) Quản lý và tổ chức thực hiện các quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt trên địa bàn Thành phố theo phân cấp, bao gồm: Tổ chức công bố, công khai các quy hoạch xây dựng; quản lý hô sơ các môc giới, chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; cấp giấy phép, chứng chỉ quy hoạch xây dựng; giới thiệu địa điểm xây dựng và hướng tuyến công trình hạ tầng kỹ thuật; cung cấp thông tin về quy hoạch, kiến trúc;
g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư quy hoạch đô thị, điều kiện năng lực của các cá nhân và tổ chức tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng hạng II và hạng III; vê thi tuyển ý tưởng quy hoạch; thi tuyển, tuyển chọn phương án thiết kế kiến trúc công trình trên địa bàn Thành phố;
h) Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về quy hoạch xây dựng, kiến trúc trên địa bàn Thành phố;

5. Hướng dẫn kiểm tra hoạt động của các tổ chức dịch vụ công thuộc các lĩnh vực quản lý của Sở; quản lý, chỉ đạo hoạt động và việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức sự nghiệp công lập trực thuộc Sở theo quy định của pháp luật.

6. Thực hiện hợp tác quốc tế về các lĩnh vực quản lý của Sở theo quy định của pháp luật, sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.

7. Xây dựng, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng I tiến bộ khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống thông tin tư liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của Sở được giao theo quy định của pháp luật.

8. Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở đối với phòng Quản lý đô thị, Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

9. Thanh tra, kiểm tra đổi với tổ chức, cá nhân trong việc thi hành pháp luật thuộc chức năng của Sở, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở theo quy định cùa pháp luật hoặc phân công của Ủy ban nhân dân Thành phố.

10. Theo dõi, tổng hợp, báo cáo định kỳ 6 tháng, 1 năm và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với Ủy ban nhân dân Thành phố, Bộ Xây dựng và các cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp ngành theo quy định của Bộ Xây dựng và sự phân công của ủy ban nhân dân Thành phố.

11. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, viên chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức và lao động thuộc phạm vi quản lý của Sở theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.

12. Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước được phân bổ theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân Thành phố.

13. Thực hiện các nhiệm vụ khác về các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc ngành Xây dựng theo sự phân công, phân cấp hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố và theo quy định của pháp luật.

(Theo quyết định số 51/2016/QĐ-UBND ngày 13 thảng 12 năm 2016 của UBND Thành phố Hà Nội)

1. Sở Quy hoạch-Kiến trúc thành phố Hà Nội là cơ quan chuyên môn trực thuộc ủy ban nhân dân Thành phố, thực hiện chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân Thành phố quản lý nhà nước về lĩnh vực quy hoạch xây dựng, kiến trúc và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân câp, ủy quyên của Uy ban nhân dân thành phố và theo quy định của pháp luật.

2. Sở Quy hoạch-Kiến trúc thành phố Hà Nội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND thành phố Hà Nội, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Xây dựng.

Mô hình quản lý quy hoạch kiến trúc - Văn phòng KTS trưởng Thành phố (1992-2002)

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa năm 1986, Hà Nội tăng trưởng mạnh mẽ cả về kinh tế và đầu tư xây dựng công trình. Bên cạnh đó, yếu tố đầu tư nước ngoài cũng góp phần thúc đẩy tốc độ đô thị hóa và xây dựng các công trình có quy mô, tầm vóc lớn hơn. Những yêu cầu đó của xã hội là đòi hỏi bức thiết đối với công tác quản lý phát triển đô thị, đặc biệt là đối với Thủ đô Hà Nội.

Với sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Xây dựng, của Thành Ủy, HĐND và UBND Thành phố (tại Quyết định số 256/CT ngày 13/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Quyết định số 2064/QĐ-UB ngày 19/9/1992 của UBND Thành phố), từ ngày 01/10/1992, đơn vị quản lý quy hoạch kiến trúc Hà Nội được triển khai thực hiện với mô hình thí điểm - Văn phòng KTS trưởng Thành phố Hà Nội cùng với thành phố Hồ Chí Minh.

Bộ máy hoạt động bao gồm Văn phòng KTS trưởng Thành phố và Đại diện KTS trưởng Thành phố tại các quận, huyện, thực hiện các chức năng nhiệm vụ: Lập kế hoạch và tổ chức nghiên cứu, thẩm tra, trình duyệt đồ án quy hoạch, thực hiện quản lý xây dựng theo quy hoạch; Quản lý Nhà nước về quy hoạch - kiến trúc; Tổ chức xem xét các đồ án về kiến trúc, cấp giấy phép xây dựng; Thanh tra xây dựng; Thẩm tra cấp giấy phép sử dụng đất cho các loại công trình xây dựng.

Trong thời kỳ 10 năm (1992-2002), KTS trưởng Thành phố đã từng bước tham mưu UBND Thành phố ban hành các văn bản pháp luật về quản lý xây dựng như quy định về cấp giấy phép xây dựng, xử phạt vi phạm hành chính xây dựng, hướng dẫn về kiến trúc - quy hoạch… đưa công tác quản lý quy hoạch vào nề nếp, góp phần tích cực tạo nên những dấu ấn trong quy hoạch, kiến trúc đô thị, với các thành tích nổi bật: Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 (xác định Hà Nội có vai trò thành phố trung tâm trong chùm đô thị Hà Nội với diện tích 921 km2, dân số thành phố trung tâm 2,5 triệu người); 100% các quận huyện được triển khai Quy hoạch chi tiết; Các khu vực đặc thù có Điều lệ quản lý như Khu Trung tâm chính trị Ba Đình, Khu phố Cổ, Khu vực Hồ Gươm và phụ cận... làm cơ sở cho công tác quản lý quy hoạch kiến trúc, cấp phép xây dựng.

Với mô hình quản lý thí điểm, lực lượng quản lý đô thị mỏng và tập trung ở một đầu mối... nhưng chức năng nhiệm vụ lại quá lớn, công tác quy hoạch bước đầu được quan tâm (tuy các đồ án Quy hoạch chung, Quy hoạch chi tiết quận huyện mới dừng ở Quy hoạch sử dụng đất và Quy hoạch giao thông), các lĩnh vực chuyên ngành khác như kiến trúc đô thị, kiến trúc công trình chưa được triển khai nghiên cứu rộng và chuyên sâu; Hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng chưa được quan tâm đúng mức...

Mặc dù còn một số hạn chế nêu trên, nhưng phải khẳng định việc thí điểm mô hình cơ quan quản lý quy hoạch kiến trúc tại Hà Nội là hướng đi đúng đắn với những thành tựu đáng kể, đóng góp cho Hà Nội trong việc trở thành đơn vị đứng đầu cả nước về phát triển khu đô thị mới, góp phần giải quyết các nhu cầu bức xúc về nhà ở sau bao cấp; Thu hút nhiều dự án đầu tư lớn ở cấp quốc gia và địa phương với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước; Từng bước thực hiện công nghiệp hoá chuyển đổi thành công cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ; Các khu thương mại, văn hóa, thể thao, dịch vụ khách sạn, nhiều tuyến đường đã được hình thành... tạo nên sự thay đổi lớn về hình ảnh đô thị văn minh, hiện đại, kích thích sự phát triển Thủ đô. 

Thành lập đơn vị quản lý chuyên ngành quy hoạch kiến trúc - Sở Quy hoạch Kiến trúc (2002-2012)

Sau 10 năm triển khai mô hình Văn phòng KTS trưởng Thành phố, thực hiện Nghị quyết 15/NQTW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về phương huớng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô đáp ứng yêu cầu quản lý xây dựng, trật tự đô thị, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đô thị, đồng thời quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 52/QĐ - TTg ngày 18/4/2002 cho phép thành lập Sở Quy hoạch - Kiến trúc thành phố Hà Nội.

Ngày 23/5/2002, UBND thành phố Hà Nội đã có quyết định số 77/QĐ-UB về việc thành lập Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Văn phòng Kiến trúc sư trưởng Thành phố với chức năng, nhiệm vụ là “Tham mưu cho UBND Thành phố để tổ chức tốt việc quản lý Nhà nước về quy hoạch - kiến trúc theo định hướng quy hoạch chung đã được Nhà nước phê duyệt”.

Đây là thời kỳ kinh tế Hà Nội phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, các sự kiện lớn, quan trọng của đất nước, của Thủ đô được tổ chức và diễn ra dồn dập, thường xuyên tại Hà Nội như: tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á Seagames 22 (2003), 50 năm Giải phóng Thủ đô (2004); Hội nghị Thượng đỉnh APEC (2006), các lễ tập dượt kỷ niệm 990 năm (2000), 995 (2005) năm Thăng Long – Hà Nội... là những đòi hỏi, thách thức đối với công tác quản lý quy hoạch kiến trúc của Sở. Nhiều công trình quy mô lớn xuất hiện, đáp ứng và phục vụ kịp thời các sự kiện trên: từ quần thể Khu liên hiệp thể thao Mỹ Đình đến công trình Trung tâm Hội nghị quốc gia... là những dấu ấn kiến trúc hiện đại, tiêu biểu của Việt Nam thời đại mới.

Phát triển Sở Quy hoạch Kiến trúc đáp ứng yêu cầu của Thủ đô giai đoạn mới (từ 2010 đến nay)

Từ khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô 2008, công tác quản lý quy hoạch kiến trúc trên địa bàn rộng lớn 3344,5 km2 càng đòi hỏi yêu cầu về chất lượng ở mức cao nhất nhằm đáp ứng sự phát triển của kinh tế xã hội Thủ đô.

Được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của Trung ương, các Bộ ngành, Thành phố, sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị Quận Huyện, Thị xã thêm vào đó là sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên, cơ quan...  Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã liên tục tiến bộ, phát triển, không chỉ dừng ở mức độ quản lý hành chính thông thường mà đang từng bước đạt đến chất lượng trong kiểm soát, phát triển đô thị, thể hiện qua các lĩnh vực công tác quy hoạch, quản lý kiến trúc, cảnh quan, đô thị, nông thôn và quản lý xây dựng theo quy hoạch. Đội ngũ quản lý quy hoạch kiến trúc toàn thành phố thực sự lớn mạnh ở các cấp, từ Thành phố đến các Quận, Huyện, Thị xã. Sự thay đổi về nhận thức cùng với sự phối, kết hợp chặt chẽ và thường xuyên giữa Sở và chính quyền địa bàn đã tạo nên một bước biến chuyển lớn, hiệu quả trong công tác quản lý đô thị, quy hoạch kiến trúc trên toàn Thành phố. Việc giao ban thường xuyên và chất lượng giữa các cấp lãnh đạo và Phòng địa bàn với chính quyền địa phương, Phòng nghiệp vụ; tổ chức Hội nghị giữa các bên Sở Quy hoạch – Kiến trúc – Quận Huyện, Thị xã với đơn vị tư vấn... đã tạo nên những hiệu quả xã hội tích cực: vừa tạo sự hiểu biết, đoàn kết, nâng cao chất lượng giữa các lực lượng tham gia công tác quản lý đô thị, vừa góp phần giải quyết tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, thúc đẩy triển khai nhanh việc lập và thực hiện quy hoạch, tạo sự đồng thuận, nâng cao tính khả thi của đồ án quy hoạch.

Sự lớn mạnh của Sở không chỉ dừng ở việc tự nâng cao năng lực của nội bộ Sở mà còn ở sự liên kết, tham vấn ý kiến của các đơn vị trong và ngoài nước, của các chuyên gia đầu ngành, các Hiệp Hội chuyên ngành trong công tác tham mưu, đóng góp ý kiến tại Hội đồng kiến trúc – Quy hoạch Thành phố, Hội đồng thẩm định các đồ án quy hoạch...

Sau khi Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội được phê duyệt, công tác quy hoạch xây dựng đã được tổ chức triển khai quyết liệt và toàn diện các quy hoạch cấp dưới như quy hoạch phân khu, quy hoạch chung đô thị vệ tinh, sinh thái, quy hoạch chung huyện, quy hoạch chi tiết. Đặc biệt, đồng loạt các quy hoạch chuyên ngành được triển khai, tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định và bền vững. Và đặc biệt là quy hoạch nông thôn chưa bao giờ được đặc biệt quan tâm và triển khai cụ thể như trong giai đoạn này.

Khác với thời kỳ trước đây, quy hoạch xây dựng chung Thủ đô và Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Thủ đô được Thủ tướng phê duyệt là cơ sở để triển khai các quy hoạch cấp dưới.

Chất lượng quy hoạch cũng được nâng lên với những yêu cầu mới, đòi hỏi cao, tầm nhìn xa với các tiêu chí định hướng cụ thể, sự phát triển bền vững giữa việc cải tạo chỉnh trang trong khu trung tâm cũ với việc đầu tư xây dựng khu đô thị mới hoàn chỉnh tại ngoại ô... là những giải pháp được đồng loạt triển khai nhằm làm mới và nâng cao chất lượng sống của cư dân Hà Nội.

Các loại hình nhà ở mới được đầu tư đồng loạt với mọi loại hình: Từ các khu đô thị văn minh, tiêu chuẩn cao, cảnh quan đẹp như Ciputra, The Mannor, Trung Hòa – Nhân Chính, Khu đô thị mới Cầu Giấy... đến các khu tái định cư, nhà ở xã hội, cải tạo xây dựng các khu nhà ở tập thể cũ như Kim Liên, Giảng Võ... Các công trình kiến trúc hiện diện vào dịp chào mừng Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội như Bảo tàng Hà Nội, tổ hợp Keangnam cao nhất Việt Nam, các trụ sở mới của Bộ Ngành như Bộ Công an, Bộ Tư pháp... thực sự là những minh chứng cho sự phát triển lớn mạnh của Hà Nội tiên tiến mà vẫn đậm đà bản sắc sân tộc, xứng đáng là những đô thị tiên phong, đại diện cho kiến trúc Việt Nam thời đại mới.

Các công trình giao thông đầu mối, sân bay quốc tế Nội Bài được mở rộng, các cây cầu lớn vượt sông Hồng như Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Nhật Tân, đường Vành đai 3 trên cao, các cầu vượt được nhanh chóng đầu tư và hoàn thành; các tuyến vành đai được hoàn thiện, liên thông... ; các loại hình giao thông hiện đại như đường sắt trên cao, metro ngầm được khẩn trương đầu tư xây dựng... Các giá trị cảnh quan đô thị được nhấn mạnh, tô điểm: Công viên cây xanh được xây dựng đẹp và văn minh, kè hồ, hệ thống cấp thoát nước, cải tạo chất lượng sông, hồ... tất cả đã dần góp phần tạo dựng đô thị Hà Nội phát triển văn minh, hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng.

Với trọng trách của đơn vị quản lý đô thị đặc thù – Thủ đô Hà Nội, trong suốt quá trình 20 năm quản lý, để triển khai hiệu quả công việc, Sở luôn đề xuất các cơ chế, chính sách, báo cáo Bộ Xây dựng, Thành phố ban hành các quyết định, Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Nghị định ban hành áp dụng cho Hà Nội và cả nước, như cơ chế như thực hiện đầu tư xây dựng Khu đô thị mới, phân cấp quản lý quy hoạch, cấp phép xây dựng... đã nhanh chóng làm thay đổi diện mạo đô thị, làm cho Hà Nội luôn dẫn đầu cả nước về tốc độ xây dựng, tổng số lượng sàn nhà ở, cải thiện nhanh, nâng cao đời sống cho người dân.

Hướng tới tương lai

Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011,Luật Thủ đô đã được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2012 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2013)... là những định hướng căn bản cho mô hình phát triển đô thị và nông thôn Hà Nội, là động lực và cơ hội vàng cho một viễn cảnh về một Thủ đô Hà Nội phát triển bền vững, đồng bộ, hiện đại, hài hòa giữa văn hóa, bảo tồn di sản, di tích lịch sử với phát triển kinh tế, một Hà Nội “Xanh - Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” và cũng sẽ là thách thức đối với công tác quản lý kiểm soát phát triển đô thị.

Thời gian tới, Sở sẽ tập trung triển khai các công việc: Về quy hoạch: quyết tâm thực hiện kế hoạch, hoàn thành về cơ bản một khối lượng lớn các đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết... trong hai năm 2012-2013; Kiến trúc đô thị dần được đi vào quỹ đạo kiểm soát với việc triển khai thiết kế đô thị, quy hoạch hai bên tuyến đường kèm theo các quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc, đặc biệt đối với các khu vực đặc thù trong khu vực nội đô lịch sử như Khu phố Cổ, Khu phố Cũ... với các quy định cụ thể và chặt chẽ nhằm đảm bảo cơ sở khoa học và tính khả thi trong việc tổ chức triển khai xây dựng theo quy hoạch, hạn chế tối đa việc điều chỉnh quy hoạch; Tạo dựng các đặc điểm nội trội, riêng biệt gắn kết với tính chất và địa điểm trong các đồ án quy hoạch phân khu; Đề xuất cụ thể quy định cụ thể đối với các khu vực thuộc đô thị trung tâm như hạn chế xây dựng cao tầng, di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, tập trung đông ra ngoài...

20 năm qua, một chặng đường không dài so với lịch sử của Thành phố nhưng việc hình thành và phát triển của một cơ quan quản lý về quy hoạch kiến trúc của Thủ đô đã khẳng định là hướng đi đúng và là một chặng đường đáng ghi nhớ. Những hình ảnh của Hà Nội phát triển hôm nay là minh chứng cho những nỗ lực, đóng góp công sức của toàn thể lãnh đạo và đội ngũ cán bộ công nhân viên của ngành hôm qua và hôm nay. Nhìn lại quãng đường đã qua, có thể tự hào nói rằng: Công tác quản lý quy hoạch kiến trúc của Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội đã luôn luôn gắn chặt và góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng phát triển Thủ đô Hà Nội yêu dấu.

10 năm kể từ tháng 10/1992 đến 2002 chế độ Kiến trúc sư trưởng Thành phố (nay là Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội) được triển khai tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Thời kỳ này, được các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Thành phố, Bộ Xây dựng quan tâm, chỉ đạo thường xuyên; cùng với sự phối hợp của các ngành, thêm vào đó là sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên, cơ quan đã đạt được những kết quả nhất định trong công tác quy hoạch, quản lý kiến trúc, cảnh quan và quản lý xây dựng đô thị.

10 năm là một chặng đường không dài so với lịch sử nhưng với việc hình thành và phát triển của một cơ quan quản lý về quy hoạch kiến trúc của Thủ đô thì là một chặng đường đáng ghi nhớ.

I- 10 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Từ những đòi hỏi khách quan của công tác quản lý đô thị, căn cứ quyết định số 256/CT ngày 13/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thực hiện chế độ Kiến trúc sư trưởng tại Thành phố Hà nội, quyết định số 298/BXD-TCLĐ ngày 24/6/1992 về quy chế hoạt động của Kiến trúc sư trưởng Thành phố, UBND Thành phố đã có quyết định số 2064/QĐ-UB ngày 19/9/1992 thực hiện chế độ Kiến trúc sư trưởng tại Thành phố Hà Nội từ ngày 01/10/1992 với chức năng chủ yếu là:

- Lập kế hoạch nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu, thẩm tra, trình duyệt đồ án quy hoạch, xây dựng, cải tạo Thành phố, thực hiện quản lý xây dựng theo quy hoạch.

- Quản lý Nhà nước về quy hoạch - kiến trúc (giới thiệu địa điểm, chứng chỉ quy hoạch, xác nhận chỉ giới...).

- Tổ chức xem xét các đồ án về kiến trúc, cấp giấy phép xây dựng, tổ chức, quản lý lực lượng thanh tra xây dựng theo giấy phép xây dựng.

- Thẩm tra trình Thành phố cấp giấy phép sử dụng đất cho các loại công trình xây dựng.

Sau 5 năm thực hiện, để phù hợp với thực tiễn, UBND Thành phố đã có quyết định số 3591/QĐ-UB ngày 16/9/1997 xác định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của văn phòng Kiến trúc sư trưởng Thành phố, từ tháng 9/2000, UBND Thành phố đã quyết định chuyển nhiệm vụ cấp phép xây dựng và quản lý thanh tra xây dựng sang Sở xây dựng thực hiện.

Thực hiện Nghị quyết 15/NQTW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về phương huớng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô “chấn chỉnh, đổi mới công tác quản lý xây dựng, trật tự đô thị, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đô thị”, đồng thời phải quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch đã duyệt như trong Pháp lệnh phát triển Thủ đô (ban hành tháng 12/2000), Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 52/QĐ-TTg ngày 18/4/2002 cho phép thành lập Sở Quy hoạch - Kiến trúc trên cơ sở tổ chức lại Văn phòng Kiến trúc sư trưởng Thành phố. UBND Thành phố đã có quyết định số 77/QĐ-UB ngày 23/5/2002 xác định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Sở Quy hoach - Kiến trúc Hà Nội là “tham mưu cho UBND Thành phố để tổ chức tốt việc quản lý Nhà nước về quy hoạch - kiến trúc theo định hướng quy hoach chung đã được Nhà nước phê duyệt.

Lãnh đạo cơ quan Kiến trúc sư trưởng thời kỳ 1992-2002

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. CÔNG TÁC QUY HOẠCH

Từ quý 4 năm 1992 đến hết kế hoạch năm 2002 đã tổ chức nghiên cứu, thẩm định và trình duyệt được trên 148 đồ án quy hoạch chi tiết, công bố để khai thác sử dụng đồng thời cũng đã thẩm định hàng trăm đồ án phục vụ các dự án Khu đô thị mới, khu chức năng. Kể từ sau điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội được Chính Phủ phê duyệt năm 1998 và nhất là sau khi có Nghị quyết 15/NQ-TW ngày 15/12/2002 của Bộ Chính trị và pháp lệnh Thủ đô ban hành, công tác quy hoạch được tập trung đẩy mạnh có sự chuyển biến đáng kể về số lượng và chất lượng.

Trong giai đoạn này, công tác nghiên cứu thiết kế qui hoạch của Thành phố Hà Nội đã được Kiến trúc sư trưởng Thành phố Hà Nội (nay là Sở Quy hoạch - Kiến trúc) tập trung đẩy mạnh, đã có nhiều đổi mới và tiến bộ về nội dung, chất lượng. Nhiều dự án qui hoạch từ qui hoạch chung, qui hoạch chuyên ngành, qui hoạch chi tiết đã được Chính phủ, Bộ Xây dựng, Uỷ ban nhân dân Thành phố phê duyệt. Công tác quản lý Quy hoạch - Kiến trúc được khẳng định vai trò, được quan tâm và trở thành cơ sở để đầu tư, từng bước đưa công tác xây dựng và quản lý đô thị theo qui hoạch vào nề nếp.

2. CÔNG TÁC QUẢN LÝ KIẾN TRÚC VÀ CẢNH QUAN ĐÔ THỊ

- Xác định rõ định hướng kiến trúc, tổ chức không gian trên cơ sở Quyết định 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 của Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Qui hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 để vận dụng trong các đồ án qui hoạch chi tiết Quận, Huyện, các khu vực Đô thị mới. Những chỉ tiêu cơ bản của Điều chỉnh quy hoạch chung được phân bố cụ thể cho 34 khu vực trong thành phố là tiền đề cho Quy hoạch chi tiết Quận, Huyện và các vùng đô thị mới. Quy hoạch chi tiết hai bên các trục đường quan trọng, cửa ngõ vào Hà Nội cũng được định hướng về kiến trúc, xác định rõ các công trình cần gìn giữ, bảo tồn, các công trình được chỉnh trang, cải tạo. Một số tuyến đường phố mới như: Đường Kim Đồng, Liễu Giai, đường Nguyễn Chí Thanh, đường Chùa Bộc... đã tạo được một Hà Nội mới hiện đại, khang trang. Nhiều quy hoạch chi tiết 2 bên trục đường sắp mở dưới sự chỉ đạo sát sao của Uỷ ban nhân dân Thành phố sẽ là những tuyến đường “Đổi mới” xứng đáng với thời kỳ mới như: Láng Hạ - Thanh Xuân, trục đường Vành đai 3...

Tổ chức góp ý phương án thiết kế cho các công trình kiến trúc có qui mô lớn, có vốn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động của Hội đồng Kiến trúc - Quy hoạch Thủ đô hoặc Hội đồng chuyên môn cơ quan. Đã xem xét tư vấn cho gần 450 phương án thiết kế công trình trong đó có 100 công trình cao tầng. Các công trình đã được xem xét góp ý là những công trình ở các vị trí quan trọng hoặc được xem xét như những điểm nhấn, công trình mốc của một khu vực.

3. CÔNG TÁC QUẢN LÝ XÂY DỰNG THEO QUY HOẠCH

- Thời gian từ năm 1993 đến 1999 (từ khi có Quyết định 132/CT cho đến khi việc cấp phép được chuyển về Sở Xây dựng) cơ quan đã xem xét cấp phép xây dựng cho gần 9000 công trình dự án với trên 7,2 triệu m2 sàn (chiếm khoảng 70% qui mô xây dựng). Số công trình còn lại xây dựng không phép chủ yếu là công trình qui mô nhỏ của nhân dân tự xây dựng do chưa đủ cơ sở để xin phép xây dựng theo qui định. Uỷ ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định 2863/QĐ-UB ngày 28/7/1997 về việc Qui định cấp phép xây dựng với nhiều qui định mới cởi mở theo hướng cải cách hành chính để quản lý xây dựng theo quy hoạch và thực chất cũng là quản lý chất lượng kiến trúc và cảnh quan.

- Năm 1998, Kiến trúc sư trưởng Thành phố đã báo cáo Uỷ ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định 12/1998/QĐ-UB về việc Qui định tạm thời thực hiện Nghị định 48/CP của Chính Phủ. Với quyết định này, Hà Nội là địa phương đầu tiên trong cả nước đã ban hành kịp thời qui định tạm thời, tháo gỡ một phần vướng mắc trong cơ chế xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị.

4. CÁC CÔNG TÁC KHÁC

- Đã phối hợp với OPCV (AUSTRALIA) thực hiện dự án quản lý quy hoạch và phát triển tại Hà Nội (1995-1997). Dự án đã được nghiên cứu nghiêm túc kết hợp được kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài và thực tiễn của Việt Nam. Dự án đã đề cập đến các nội dung: Mô hình tổ chức, quy hoạch chi tiết khu phố Cổ, Quy hoạch chi tiết một số Phường thuộc Quận Hai Bà Trưng; Phương án kiểm soát phát triển xây dựng tại Hà Nội... Qua báo cáo kết quả dự án với các cấp có thẩm quyền và Hội thảo quốc gia dự án đã được đánh giá tốt và thực sự chuyển giao được những kinh nghiệm quý báu cho công tác quản lý quy hoạch và phát triển.

- Đã triển khai một số đề tài nghiên cứu khoa học như: Đề tài truy cập, xử lý dữ liệu về công trình kiến trúc và qui hoạch thành phố. Xây dựng ngân hàng dữ liệu phục vụ công tác quản lý kiến trúc, qui hoạch tại Hà Nội; Nghiên cứu điều chỉnh một số yêu cầu và chỉ tiêu về kiến trúc đô thị trong quản lý các công trình xây dựng và cải tạo trên địa bàn Hà Nội; Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn, quản lý di tích; Xây dựng nhà cao tầng; Các đề tài đã được triển khai theo đúng đề cương, nội dung được phê duyệt kết hợp giữa nghiên cứu với thực tiễn quản lý và nâng cao năng lực.

Trạng thái truy cập

Đang có 42 khách và không thành viên đang online

Thông tin về Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội

Sở Quy hoạch - Kiến trúc là cơ quan chuyên môn của UBND Thành phố Hà Nội, có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND thành phố Hà Nội thực hiện quản lý nhà nước về quy hoạch - kiến trúc xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn... và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác được phân cấp, ủy quyền của UBND Thành phố theo quy định của pháp luật.

Địa chỉ cơ quan: 31b phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Điện thoại liên hệ: 043.8232312; Đường dây nóng: 043.37325198

Top
We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…